Trà
Nước trà (hay nước
chè) là đồ uống phổ biến thứ hai trên thế giới (sau nước uống).
Nó làm bằng cách ngâm lá, chồi, hay cành của cây chè (Camellia
sinensis) vào nước sôi từ vài phút đến vài giờ. Lá trà có thể được ôxy hóa (ủ để lên men),
sấy rang, phơi, hay pha thêm các loài thảo mộc khác như hoa, gia vị,
hay trái cây khác trước khi chế vào nước sôi.
Trong phạm vi thức uống chế từ Camellia
sinensis thì có bốn loại trà
thật: Chè đen, Chè Ô Long, Chè xanh và Chè trắng.
Nước trà là nguồn caffein, theophylline và chất chống oxy hóa (antioxidant) tự nhiên và gần
như không có mỡ,carbohydrate,
hay protein.
Nước trà có mùi thơm,vị hơi đắng và chát.
Trồng và thu hoạch
Camellia sinensis là loài thực vật thường xanh mọc chủ
yếu trong các vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Nhiều giống cũng có thể
thích nghi với khí hậu
biển và được trồng đến tận phía bắc như Pembrokeshire ở Đảo Anh lục địa và Washington ở Hoa Kỳ.
Cây chè được
nhân giống từ hạt và cắt; nó mất khoảng 4 đến 12 năm để cây ra hạt giống, và
khoảng 3 năm trước khi một cây mới sẵn sàng cho thu hoạch. Ngoài khu 8 hay
vùng khí hậu ấm hơn, cây chè cần ít nhất 1270 mm lượng mưa mỗi năm và môi
trường đất chua.[Nhiều cây chè chất
lượng cao được trờng ở những độ cao lên đến 1.500 m (4.900 ft) so với
mực nước biển. Ở độ cao này, cây phát triển chậm hơn, chúng cho ra mùi vị đặc
biệt hơn.
Hai gióng thường được trồng là Camellia
sinensis var. sinensis, được dùng
làm trà ở Trung Quốcm Đài Loan và Nhật Bản, và giống Camellia sinensis var. assamica,
được dùng trong Pu-erh và
trà Ấn Độ (không phải Darjeeling). Trong các
giống thực vật này, có nhiều chủng và giống vô tính hiện đại. Kích thước lá là
tiêu chuẩn chính trong việc phân loại cây chè, với 3 cách phân loại cơ bản là, Assam, đặc trưng bởi lá lớn nhất; chè
Trung Quốc, đặc trưng bởi lá nhỏ nhất; chè Campuchia, đặc trưng bởi lá có kích
thước trung bình.
Cây chè lớn cao đến 16 m (52 ft) nếu không bị tác
động, nhưng các loại cây trồng thường được tỉa cành để độ cao của chúng ngang
với thắc lưng nhằm để tuốt (thu hoạch). Do vậy, khi tỉa thường xuyên và thân
thấp thì có nhiều chồi non và làm tăng chất lựong chè. Chỉ có 1-2 in phần lá trên cùng của
cây được chọn để hái. Một cây
trưởng thành cho lá trong vòng 7 đến 15 ngày trong mùa phát triển.
Sản xuất
Năm 2003, sản lượng chè trên thế giới hàng năm là 3,21 triệu
tấn. In 2010, world tea
production reached over 4.52 million tonnes. Nước
sản xuất lớn nhất là Trung Quốc, Ấn Độ, Kenya, Sri Lanka,
và Thổ Nhĩ Kỳ.
Bảng dưới đây thể hiện sản lượng trà (tấn) theo các nước sản
xuất nhiều nhất. Dữ liệu theo FAO của Liên Hiệp Quốc đến tháng 2 năm 2012.
|
Hạng
|
2008
|
2009
|
2010
|
2011
|
|
|
1
|
1.274.984
|
1.375.780
|
1.467.467
|
1.640.310
|
|
|
2
|
987.000
|
972.700
|
991.180
|
1.063.500
|
|
|
3
|
345.800
|
314.100
|
399.000
|
377.912
|
|
|
4
|
318.700
|
290.000
|
282.300
|
327.500
|
|
|
5
|
198.046
|
198.601
|
235.000
|
221.600
|
|
|
6
|
173.500
|
185.700
|
198.466
|
206.600
|
|
|
7
|
165.717
|
165.717
|
165.717
|
162.517
|
|
|
8
|
150.851
|
146.440
|
150.000
|
142.400
|
|
|
9
|
80.142
|
71.715
|
88.574
|
96.572
|
|
|
10
|
96.500
|
86.000
|
85.000
|
82.100
|
|
|
Tổng
|
Thế giới
|
4.211.397
|
4.242.280
|
4.518.060
|
4.321.011
|

Nhận xét
Đăng nhận xét